Category: Sưu tầm

  • Căn bệnh “để mai tính” và phương pháp Kaizen của người Nhật – Bí quyết giúp vượt qua sự trì hoãn

    Căn bệnh “để mai tính” và phương pháp Kaizen của người Nhật – Bí quyết giúp vượt qua sự trì hoãn

    Đọc xong bài này thấy hợp với mình lắm, tâm đắc lắm, ưng ý lắm. Cũng muốn nghiên cứu để khắc phục nhưng đọc xong lại nghĩ, thôi note lại đây, từ từ nghiên cứu.

    Nói chung cái bệnh này rất khó chữa 🙂

    Dù sao thì cũng lưu lại để còn có cái nhắc nhở bản thân.

    kaizen

    Sự trì hoãn hay tên gọi phổ biến hơn: căn bệnh “lười biếng”.

    Đây là căn bệnh mà bất kì ai cũng gặp. Ngay cả những người thành công nhất, đó cũng không phải là một ngoại lệ. Là bởi vì, về mặt tâm lý, bộ não con người có một cơ chế hết sức đặc biệt, đó là cơ chế tiết kiệm năng lượng. Tức là nó sẽ luôn luôn ưu tiên những việc gì tốn ít năng lượng nhất, đơn giản, dễ dàng và ngại việc phức tạp. Về mặt khoa học, bộ não chỉ nặng khoảng 1,2 – 1,5 kg, bằng khoảng 2-3% so với khối lượng cơ thể, tuy nhiên lượng oxy não bộ cần dùng chiếm từ 20-30% toàn bộ lượng oxy cung cấp cho cơ thể. Cho nên, nếu một ai sinh ra, và mắc căn bệnh “lười”, thì đó là một người hoàn toàn bình thường.

    TỪ BỆNH LƯỜI DẪN ĐẾN CĂN BỆNH ĐỂ MAI TÍNH

    Buổi tối ngồi vào bàn học, hoặc ngồi vào bàn làm việc, mặc dù là có việc quan trọng cần phải làm, nhưng khi cơ thể mệt mỏi (do não bộ phát ra tín hiệu theo đúng cơ chế tiết kiệm năng lượng), thế là trong đầu chúng ta xuất hiện ý nghĩ: thôi giờ mệt quá, phải nghỉ ngơi xíu, để mai làm cũng được mà.

    Khi chúng ta hào hứng và quyết tâm cho kế hoạch giảm cân, được mấy hôm bạn rủ đi sinh nhật, đồng nghiệp rủ đi ăn liên hoan, bản thân lại tự dặn lòng, thôi mình chỉ ăn nốt hôm nay thôi, kể từ mai mình sẽ nghiêm khắc với bản thân mình.

    Là sinh viên hay người mới đi làm, không khó để nhận ra khẩu hiệu: giới trẻ Việt còn yếu kém ngoại ngữ lắm, cho nên là thế hệ tương lai, thì phải đầu tư vào ngoại ngữ. Học được mấy ngày, khó quá, thôi cho mình chơi nốt hôm nay, rồi mai mình sẽ học.

    Cũng nhiều lần muốn tiết kiệm chi tiêu, quyết tâm làm giàu, tự nhủ lòng mình sẽ không tiêu xài hoang phí. Nhưng tiết kiệm được một thời gian, thấy bản thân mệt mỏi quá, não bộ lại suy nghĩ, thôi phải cho phép bản thân tận hưởng nốt hôm nay, kể từ mai mình sẽ lại thắt lưng buộc bụng để làm giàu.

    Ai cũng biết tập thể dục là tốt cho sức khỏe. Khoa học chỉ ra rằng không tập thể dục mức độ nguy hiểm tương đương với việc bạn hút thuốc lá. Thế là mình cũng nỗ lực đến phòng tập, không thì cũng phải đầu tư đôi giày, chạy bộ, đạp xe, bơi lội. Được mấy ngày mệt quá, nản quá, lại tự nhủ thôi hôm nay cho cơ thể mình nghỉ ngơi xíu, để mai mình sẽ lại bắt đầu lại từ đầu.

    Một tuần có 7 ngày, trong tất cả các thứ, từ thứ hai, thứ ba, .. cho đến thứ sáu, thứ bảy và chủ nhật lại chẳng có thứ nào gọi là “thứ mai” cả. Thông điệp, sống là sống cả đời, nốt hôm nay thôi (cho việc chơi, lãng phí, lười tập thể dục, lười học, lười làm,…) có sao đâu dần dần trở thành một thói quen trong tâm trí. Hãy nghĩ về một điều bạn đã từng rất rât muốn làm cho bản thân mình, và tự hỏi lần cuối cùng mình làm nó là bao giờ? Chẳng hạn như tập thể dục, học ngoại ngữ, ăn uống đúng chế độ, thăm hỏi người thân, chăm sóc bản thân, đọc sách,… Nếu như lần cuối cùng bạn làm điều đó, mà không phải là ngày hôm qua, hoặc gần đây thôi, thì có lẽ giờ đây là lúc mà bạn cần một sự thay đổi.

    PHƯƠNG PHÁP KAIZEN CỦA NGƯỜI NHẬT VÀ BÍ QUYẾT ĐỂ VƯỢT QUA SỰ TRÌ HOÃN

    Được sáng tạo bởi người Nhật Bản, Kaizen là viết tắt của hai từ Kai (Thay đổi)Zen (Thông thái),

    Kaizen nghĩa là thay đổi liên tục để tốt đẹp hơn. Kaizen là thuật ngữ không quá xa lạ với nhiều người, và thường được ứng dụng nhiều trong năng suất lao động, làm việc. Tuy nhiên, bài viết này Edward sẽ nhìn ở góc độ tâm lý và những ứng dụng trong tâm lý để thay đổi hành vi con người thì phương pháp Kaizen lại là một phương pháp rất hay bởi lẽ, nó giúp chúng ta dễ dàng đánh bại cơ chế “tiết kiệm năng lượng” của não bộ, tức giúp tất cả mọi người, vượt qua được căn bệnh lười.

    Hiểu đơn giản, phương pháp Kaizen như sau, đó là bạn làm điều mà bạn cảm thấy quan trọng với bản thân, trong thời gian rất ngắn, và làm nó liên tục, đều đặn hàng ngày. Nguyên tắc tối quan trọng của phương pháp Kaizen đó là phải làm một việc đủ dễ, đủ đơn giản, không cần phải suy nghĩ, và sau đó là liên tục liên tục làm hàng ngày. Từ đó, căn bệnh trì hoãn, hay bệnh lười bị đánh bại hoàn toàn.

    Nếu muốn duy trì thói quen đọc sách, thay vì phát nản với cả cuốn sách dày cộp, mỗi lần đọc, bạn chỉ đọc 1 trang sách, nếu một trang sách vẫn quá khó, hãy chỉ đọc nửa trang, hoặc thậm chí một đoạn ngắn.

    Nếu muốn tập thể dục và bạn không có đủ động lực để tập hẳn 30 phút hay 1 tiếng, hoặc đến phòng gym, không sao cả, hãy tập thể dục trong 1 phút. Sau mỗi 1 tiếng làm việc, hãy đứng lên vận động 1 phút. Với các bạn nam, sau mỗi tiếng làm việc, hãy hít đất 5 cái, hoặc gập bụng 3 cái.

    Nếu bạn không còn đủ sức mạnh để học ngoại ngữ, hãy học ngoại ngữ 5 phút mỗi ngày. Chẳng hạn như xem một nửa bài TED talk, đọc một bài đọc ngắn, đọc một mẩu truyện ngắn, chỉ 5 phút thôi, vậy là đủ rồi.

    Nếu bạn rất muốn dành tình cảm và gắn kết các mối quan hệ, thay vì có thể hẹn gặp được người thân, bạn bè, rất khó xếp lịch, và đôi khi có thể là tốn kém chi phí, đơn giản, có thể nhắn một tin nhắn quan tâm, hoặc viết một thiệp ngắn gọn để gửi tặng, sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

    Nếu bạn muốn rèn luyện thói quen thiền định, thay vì không thể ngồi thiền hàng giờ như các thiền sinh lâu năm, bạn có thể ngồi thiền 3-5 phút buổi sáng sau khi thức dậy và buổi tối trước khi đi ngủ.

    Cốt lõi của phương pháp này nằm ở chỗ, sau mỗi lần làm như vậy, bạn thay đổi chưa nhiều, nhưng sự duy trì và lặp đi lặp lại sau đó, mới chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt.

    Ngay cả khi mỗi ngày bạn chỉ tập thể dục được 5 phút, nhưng duy trì đều đặn một năm 365 ngày thì bạn cũng dành ra được 1825 phút tập thể dục, còn hơn là được vài hôm đến phòng gym rồi cả 6 tháng trời không tập thể dục.

    Nếu mỗi ngày bạn chỉ dành ra 5 phút để đọc sách, thì một năm bạn cũng có thể đọc được vài quyển sách, còn hơn là cả năm chẳng bao giờ đọc được cuốn sách nào. Tuy nhiên, mọi thứ lại không chỉ là như vậy.

    Mấu chốt của nguyên tắc tâm lý khiến chúng ta lười là do cơ chế tiết kiệm năng lượng của não bộ.

    Bộ não thích làm những gì nó quen, vì những thứ đó nó không mất năng lượng. Ví dụ như việc đi xe máy, bản chất nó là một việc rất tốn năng lượng (hãy nhớ lần đầu bạn đi). Chân bạn truyền tín hiệu vào số (xe số), chân kia bạn đạp phanh, tay bạn nắm cần lái, đầu óc bạn tập trung nhìn đường, mỗi cung đường bạn đều phải lo lắng xử lí. Nhưng khi quen rồi, bạn có thể đi xe máy dễ dàng, đôi khi không nhìn đường, vừa đi vừa nói chuyện, chả hiểu sao một lúc đã về đến nhà mình.

    Khi một thói quen, một hành vi được lặp đi lặp lại nhiều, thì bộ não quen với nó, và khi đã quen rồi thì bộ não sẽ không thể thiếu nó, giống như oxy, không khí vậy. Cho nên, khi đó những việc vốn dĩ trước đây chúng ta không thích thì bây giờ chúng ta lại rất thích, và khi quen rồi thì cũng tự nhiên chúng ta sẽ tăng thời gian dành cho hoạt động đó lên. Chẳng hạn sau 3 tháng rèn thói quen mỗi ngày chỉ đọc sách 5 phút, bạn ngồi vào bàn đọc sách, tự nhủ chỉ 5 phút thôi, một lúc sau nhìn đi nhìn lại đã thấy rằng mình đọc cả tiếng đồng hồ. Bạn tự nhủ mỗi ngày chỉ học ngoại ngữ 5 phút, khi quen rồi, vừa ngồi vào lúc, lúc sau đã thấy mình ngồi đọc cả nửa tiếng trời,.. Tương tự như vậy với tất cả các thói quen khác.

     

     

    Khi phần lớn thời gian của chúng ta, được dành cho những việc có giá trị, hữu ích, là việc chúng ta muốn làm, thì điều đó chẳng phải rất tuyệt vời sao?

    ____________________________

  • ‘Mệnh’ là cái cớ của kẻ thất bại, ‘vận’ là lời khiêm tốn của người thành công

    ‘Mệnh’ là cái cớ của kẻ thất bại, ‘vận’ là lời khiêm tốn của người thành công

    ooooooooooooooooo

    ‘Mệnh’ là cái cớ của kẻ thất bại, ‘vận’ là lời khiêm tốn của người thành công
    Làm người, chỉ số IQ cao hay thấp cũng không sao, chỉ số EQ thế nào cũng không thành vấn đề, nói thẳng ra, bạn có thể không thông minh, cũng có thể không giỏi về giao tiếp xã hội, nhưng nhất định phải bản lĩnh.

    Làm người có khí phách lớn, thì sẽ có thành công lớn. Bởi vì ý chí, mới là tiêu chuẩn của người thành công.
    Nếu chỉ một chút trở ngại đã khiến bạn quỵ ngã,
    Nếu chỉ một hai lời nói xấu cũng làm bạn tức giận,
    Nếu hơi một chút là đã ghét, căm hận người khác,
    Vậy thì bản lĩnh của bạn thật quá nhỏ…

    Hãy ghi nhớ một câu nói: Càng cố gắng càng gặp may.
    Bỏ nóng nảy, bỏ lười biếng, làm trống rỗng phần não không cưỡng nổi quyến rũ, mở to đôi mắt dễ bị mọi thứ lôi cuốn.
    Tĩnh tâm để làm tốt việc bạn cần làm, nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu. Khi bạn thật sự cố gắng, bạn sẽ phát hiện rằng mình xuất sắc hơn so với tưởng tượng rất nhiều.

    Trên đời này ngoại trừ việc sinh tử, thì các việc khác đều là chuyện nhỏ. Bất kể bạn gặp chuyện phiền não gì, đều không nên làm khó dễ cho chính mình.
    Bất luận hôm nay xảy ra chuyện tồi tệ gì, thì cũng đừng bao giờ thất vọng về cuộc sống, bởi vì vẫn còn có ngày mai.
    Điều tuyệt diệu chỉ chờ đợi những người đang tiến về phía trước
    Người có mục tiêu đang chạy băng băng, người không có mục tiêu đang lạc lối, bởi vì họ không biết phải đi đâu!

    Người có mục tiêu đang cảm ơn, người không có mục tiêu đang oán trách, bởi vì họ cho rằng cả thế giới đều nợ họ!
    Người có mục tiêu ngủ không được, người không có mục tiêu ngủ không dậy, bởi vì không biết thức dậy rồi sẽ làm gì!

    Lúc cảm thấy khổ não chính là lúc bản thân vỡ lẽ ra rằng: Dễ đi thì chính là đường xuống dốc! Đang trong chịu đựng là vì bạn đang đi lên dốc, đi qua rồi, bạn nhất định sẽ có tiến bộ.

    Nếu bạn đang oán trách vận mệnh không chiếu cố, vậy thì hãy ghi nhớ: “Mệnh, là cái cớ của người thất bại; Vận, là lời nói khiêm tốn của người thành công”.
    Mặc dù mệnh là do thiên định, nhưng thiên định không có nghĩa là để mặc mọi thứ ra sao thì ra, càng không phải để oán trách, bởi đó chỉ là một kiểu biểu hiện của nhu nhược; nỗ lực hết mình mới là thái độ cần có của cuộc đời!

    –Sưu tầm

  • Dốt mà không dám hỏi

    Dốt mà không dám hỏi

    e8c4964d7d22c1528c8261e432b2ba31

    Hồi mới bắt đầu triển khai Fsoft, có lần khách Tây sang dạy cho quân của tôi một công nghệ mới.

    Sau cả buổi chiều vất vả dạy dỗ, tối đến khách hàng tâm sự: “Bọn tao không thể làm với chúng mày được. Quân của chúng mày dốt quá”. Tôi tức lắm hỏi lại: “Mày mới dạy một buổi sao biết quân tao dốt?”. “Thì dạy xong, tao hỏi có đứa nào có câu hỏi gì không? Không thấy thằng nào giơ tay. Chứng tỏ là chẳng thằng nào hiểu gì”.

    Thế là chúng tôi mất béng cái hợp đồng đấy. Vì không ông nào dám giơ tay hỏi. Ngẫm nghĩ lại thấy khách hàng hoàn toàn có lý. Tưởng sau nhiều năm, giới trẻ sẽ tiến bộ lên, ai ngờ càng ngày càng tệ.

    Đi dạy, mỗi khi hỏi: có ai muốn hỏi hoặc có ý kiến gì không, tôi thấy các sinh viên tự nhiên cắm đầu xuống hết. Mà không chỉ sinh viên mới lớn, quen ngoan ngoãn nghe lời. Cả các học viên trưởng thành hơn, tự tin hơn, đã đi làm, học các loại MBA, hay khoá lãnh đạo cao cấp cũng thế.

    Nghĩ tiếc anh em bỏ thời gian, bỏ tiền đi học, tôi thường yêu cầu học viên có những vấn đề nào cần quan tâm thì đăng ký trước, để mình có thể điều chỉnh bài giảng. Vậy mà không ít lần tôi phát cáu: đến đây chẳng hát thì hò, chẳng phải con cò ngóng cổ lên nghe. Các anh chị không có câu hỏi gì, thì tốt nhất giải tán lớp, tôi cũng đỡ phải dạy, các anh chị có thể đi chơi giao lưu.

    Khi Thomas Edison hỏi thầy giáo ở trường rằng liệu có thể cho âm thanh vào một cái hộp không, tất nhiên câu hỏi đó là một câu “hỏi ngu” tuyệt đối theo nhận định của xã hội lúc bấy giờ. Những câu hỏi “ngu” đến mức người ta đã đuổi học Edison kèm lời nhắn cho mẹ cậu bé rằng tốt nhất nên để trò Thomas đi chăn lợn thì hơn. Nhưng cuối cùng, những câu hỏi ngu của cậu bé ấy lại trở thành tiền đề thay đổi lịch sử công nghệ.

    Khi Warren Buffett và Bill Gates, bây giờ là người giàu thứ nhất và thứ nhì nước Mỹ, gặp nhau lần đầu tiên vào ngày 4/7/1991, họ đã nói chuyện gì với nhau? Bàn chuyện mua một hòn đảo để nghỉ dưỡng hay siêu xe? Câu chuyện đã được kể lại nhiều lần: Lúc đầu, cả hai đều rất bối rối khi được hẹn gặp nhau, chẳng biết phải nói chuyện gì, với Buffett thì máy tính và rau bắp cải cũng giống nhau (đến giờ ông vẫn chưa có e-mail), còn Bill Gates thì than phiền với mẹ rằng: “Con biết nói chuyện gì với một người suốt ngày chơi cổ phiếu?”.

    Cuối cùng, họ chỉ ngồi đó để đặt các câu hỏi cho nhau. Buffett ra sức hỏi Gates về các cổ phiếu công nghệ, vì ông thấy các công ty công nghệ “cứ ra đời rồi lại biến mất”. Gates lại hỏi Buffett về việc đầu tư vào truyền thông. Họ ngồi tâm sự ba giờ đồng hồ, rồi trở thành bạn bè thân thiết trong suốt 25 năm sau đó, cùng xây dựng quỹ từ thiện lớn nhất thế giới, chỉ vì ấn tượng của Bill Gates ngày hôm đó: “Ông già đó đặt các câu hỏi rất hay”. Vấn đề là câu hỏi. Các tỷ phú cũng không giấu rằng họ có cái cần phải học, phải… hỏi ngu.

    Tại sao lớp trẻ tự nhiên lại ì ra như vậy? Có lẽ các bạn ấy không biết rằng, hỏi ngu cũng là cách để trưởng thành. Liệu có phải là phương pháp giáo dục của chúng ta, từ nhà trường đến gia đình, đã triệt tiêu đi khả năng đặt câu hỏi của những đứa trẻ? Ở nhà trường thì đọc chép, ở gia đình thì mặc định việc truyền đạt kiến thức là của trường lớp (và các bậc phụ huynh thì cũng trưởng thành dưới mái trường đọc – chép). Văn hoá hỏi lại những điều thắc mắc không được khuyến khích.

    Tôi không dám nghĩ đến việc một người yêu các câu hỏi như Bill Gates mà đến dạy cho các lãnh đạo tương lai ở nước ta, thì ông sẽ lịch sự nhận xét gì?

    Nguyễn Thành Nam

    Nguồn:

    http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/dot-ma-khong-dam-hoi-3436513.html?utm_source=home&utm_medium=box_gocnhin_home&utm_campaign=boxtracking

  • [Sưu tầm] Văn hóa tranh luận và vấn đề ngụy biện


    Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong các thể chế dân chủ và văn minh. Ở nhiều nước Tây phương, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc hẳn hoi, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi. Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải chú tâm vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không nhằm vào cá nhân và bản thân của người tham gia tranh luận.

    Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này. Thành ra, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của cuộc tranh luận rất thấp. Chỉ cần xem qua những lần tranh luận trên các đài truyền hình (ở Úc chẳng hạn), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận (nhất là các quan chức) thay vì đương đầu với lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số lớn chính trị gia, nghệ sĩ, và khoa học gia, được xuất hiện trên ti-vi để bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một lần đóng kịch không hơn không kém. Nó là một kịch bản ngớ ngẩn đã được dàn xếp sẵn. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn. Thực ra, họ xuất hiện để được ghi nhận, để được [nói theo tiếng Anh] là “to be seen”. Đối với các chính trị gia, nghệ sĩ, và khoa học gia loại này, “to be seen” là một phương tiện sống còn của họ trong xã hội, là một cách nói “Tôi vẫn còn đây”. Điều này có nghĩa là càng xuất hiện nhiều trên ti-vi nhiều chừng nào càng đem lại lợi ích cá nhân cho họ. Thành ra, ti-vi ngày nay đã trở thành một tấm gương cho những anh chàng bảnh trai Narcissus hiện đại phô bày bộ mặt của họ, chứ không cống hiến gì nhiều cho một xã hội dân chủ.

    Mà cũng chẳng riêng gì ở Úc, tình trạng nghèo nàn về tranh luận này đã và đang xảy ra ở Âu châu. Trong mấy tháng gần đây, giới khoa học Âu châu đang lên cơn sốt “Holocaust” (cuộc tàn sát người Do thái, trước và trong thế chiến thứ II). Bất cứ một nhà khoa học nào, nghệ sĩ nào dám chất vấn những quan điểm “chính thống” về thực phẩm, về bệnh AIDS, về cuộc xung đột ở Kosovo, về sự kiện hôm 11/9 ở Mĩ, hay về môi trường đều bị dán cho một nhãn hiệu là bạn của Nazi. Giáo sư Bjorn Lomborg mới lên tiếng chất vấn những con số thống kê về môi trường liền bị gắn cho nhãn hiệu “giống như Nazi”. Những ai dám chất vấn mối liên hệ giữa vi khuẩn HIV và bệnh AIDS liền bị tố cáo là “muốn cho thế giới này có một Holocaust thứ hai”. Thật vậy, ở Âu châu ngày nay xuất hiện một xu hướng mà những quan điểm đã được xem là “chính thống” thì không ai được chất vấn. Cái xu hướng này nó đang ăn sâu vào xã hội và giới truyền thông đến nổi một nhà trí thức Anh phải than phiền là nếu không ngăn chận, nó có cơ đem xã hội Âu châu quay trở lại thời Trung cổ, thời mà không ai dám chất vấn những gì Vatican phán.

    Trong cộng đồng người Việt, vấn đề này còn nghiêm trọng hơn. Rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận trong cộng đồng đã trở thành những cuộc chửi lộn, mà trong đó người tham gia tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là bản thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Một đơn cử, mới đây, những bài viết liên quan đến biên giới, thay vì bàn luận thẳng vào vấn đề, người ta có khuynh hướng công kích vào cá nhân người viết. Những danh từ, tính từ hết sức vô văn hóa được mang ra dùng cho tác giả. Thay vì dùng những chữ như Holocaust, Nazi, người Việt có những cụm từ đánh vào chỗ nhạy cảm của quần chúng. Trong hầu như những tranh luận liên quan đến Việt Nam, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo đức cao cả bằng cách gắn cho đối phương một trong hai cụm từ trên, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc. Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc. Tức là, thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ.

    Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những luật lệ hay qui tắc quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Từ nhiều thế kỉ qua, giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

    Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lí lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lí luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn của bài viết, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể nhận dạng ra chân-giả.

    Nhóm 1. Thay đổi chủ đề

    1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, nguy hiểm nhất, và có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

    Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông ta đang làm ăn với phía Việt Nam, tất nhiên ông ta phải nói tốt về Việt Nam”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu mà là logic của lời phát biểu. Một cách ngụy biện khác cũng dựa vào cách nói này là dùng một nhân vật khác, chẳng hạn như “Vậy thì chúng ta hãy đóng cửa nhà thờ cả đi. Hitler đã chắc hẳn sẽ đồng ý với anh.”

    Hình thức ngụy biện thứ hai trong loại này là người ngụy biện cố gắng thuyết phục người đối thoại chấp nhận luận điểm của họ bằng cách đề cập đến hoàn cảnh của cá nhân đó. Ví dụ: “Anh nói là không nên uống rượu, vậy mà anh đã từng ngất ngưởng cả năm qua.”

    Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh theo học trong một trường dành cho con nhà giàu. Do đó, anh là một người giàu có, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ.”

    2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế.” Đây không hẳn là một lí lẽ hư, nó có thể có liên hệ đến một nhân vật có uy tín trong một lĩnh vực nào đó, nếu người ta thảo luận về lĩnh vực đó. Chẳng hạn như phải phân biệt giữa hai phát biểu “Ông Hawking (Stephen Hawking, nhà Vật lí Lí thuyết đương đại nổi tiếng người Anh) kết luận rằng những lỗ đen (black holes) có thể phát ra phóng xạ”, và “Ông Penrose cho rằng xây dựng một cái máy điện toán thông minh là một điều có thể làm được.” Nếu ông Hawking là một nhà vật lí thì chúng ta có thể tin vào ý kiến của ông về những lỗ đen. Nhưng nếu ông Penrose là một nhà toán học, thì chúng ta có quyền chất vấn ông ta có đủ thẩm quyền để bàn về đề tài thông minh nhân tạo hay không?

    3. Lợi dụng quyền lực nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Ví dụ như “Một viên chức tình báo trong chính phủ Úc cho rằng chính anh từng hoạt động cho địch.”

    4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về sự hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

    5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

    6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách di chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ thuật giới ngụy biện hay dùng. Chẳng hạn như trong câu này “Được rồi, vậy anh không tin là có người ngoài hành tinh đã từng chi phối đến chính phủ Mỹ, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không,” đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

    Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

    7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào Kinh thánh sẽ bị thiêu cháy dưới đáy địa ngục”, hay “Thôi được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi có giấy phép mang súng chưa nhỉ?”

    8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay rồi đấy.”

    9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Thượng đế, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu Thượng đế hiện hữu!)

    10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.

    11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.” Liên hệ với loại ngụy biện này là hình thức tranh thủ sự ủng hộ của đám đông để cố gắng cho thấy luận điểm của mình là đúng. Ví dụ: “Ai cũng biết Bộ Y tế làm là đúng, sao anh dám nói là sai? Hay là anh muốn nói chúng tôi là những kẻ ngu xuẩn?”

    Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề

    12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”, hay “Đối với Mỹ, anh chỉ có hai lựa chọn: thương hay ghét, trả lời đi!”

    13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngờ nghệch. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của John Howard “Hiến pháp Úc đã tồn tại cả trăm năm nay, và xã hội ổn định, không có lí do gì phải thay đổi hiến pháp”.

    14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa marijuana, công chúng sẽ bắt đầu hút á phiện, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ 18 cho đến nay bao giờ.”

    15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”

    16. Đơn giản hóa vấn đề. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

    Nhóm 4. Qui nạp sai

    17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Jim Baker là một tay đạo đức giả. Do đó, các tín đồ Cơ đốc giáo là giả dối.”

    18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người Phật giáo là vô thần. Anh là phật tử, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

    19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi ứng dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ Martin Luther King,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng người da đen hay sao? Sao anh dám nói thế?”

    20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường lẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

    21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”

    22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

    23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

    24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”

    25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”

    Nhóm 5. Nguyên nhân giả

    26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

    27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

    28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

    29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.

    30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

    31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

    Nhóm 6. Nhập nhằng

    32. Lí lẽ mơ hồ. Dùng những chữ và lí lẽ mơ hồ, tối nghĩa là một hình thức ngụy biện, nhất là khi một chữ hay câu phát biểu được dùng với hai (hay nhiều hơn hai) ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, chữ “miễn phí” trong câu sau đây có thể có nhiều nghĩa khác nhau: “Có loại nhu liệu nào rẻ hơn nhu liệu miễn phí? Nhưng để duy trì tình trạng miễn phí, chúng ta cần phải có một hệ thống đăng kí và cung cấp giấy phép cho người dùng.” Một ví dụ khác về cách nói lập lờ là “Các hành động hình sự là bất hợp pháp, và tất cả các phiên tòa xử tội giết người là hành động hình sự, vì thế tất cả các phiên tòa này bất hợp pháp”.

    33. Chơi chữ (Amphiboly). Ngụy biện bằng chơi chữ dựa vào những giả thuyết mơ hồ, nhập nhằng, do bất cẩn thận hay cách phát biểu sai văn phạm. Chẳng hạn như một phát biểu kiểu như “Giả thuyết: tin vào Thượng đế sẽ lấp đi khoảng trống tinh thần” là ngụy biện, vì người “lấp đi khoảng trống tinh thần” là một điều trừu tượng, ai muốn hiểu sao thì hiểu.

    34. Trọng âm (accent). Đây là một hình thức ngụy biện bằng cách dùng thay đổi ý nghĩa của một câu văn qua nhấn mạnh. Ví dụ như câu phát biểu “Chúng ta không nên nói xấu về bạn bè” khác với “Chúng ta không nên nói xấu về bạn bè” chỉ ở chỗ nhấn mạnh (gạch dưới). Người thờ ơ có thể hiểu sai điểm nhấn mạnh của câu phát biểu.

    Nhóm 7. Phạm trù sai

    35. Hỗn hợp. Loại ngụy biện này thường dùng những đặc tính bề ngoài để suy luận cho một điều gì cá biệt. Ví dụ: “Xe đạp được làm bằng những dụng cụ nhẹ kí, do đó, xe đạp rất nhẹ”, hay “Xe hơi dùng ít xăng dầu và không gây ra ô nhiễm môi trường bằng xe bus. Do đó, xe hơi không gây hại cho môi trường bằng tác hại của xe bus.”

    36. Tùy tiện, phi thể thức (ad hoc). Giải thích và lí lẽ là hai điều khác nhau. Nếu muốn xác minh A, và dùng B làm bằng cớ, thì câu phát biểu “A xảy ra bởi vì B xảy ra” là một lí lẽ. Tuy nhiên, nếu muốn xác minh một sự thật về B, thì câu phát biểu “A xảy ra bởi vì B xảy ra” không phải là một lí lẽ mà là một lời giải thích. Ngụy biện theo kiểu phi thể thức là hình thức dùng giải thích sau khi đã có sự thật mà sự thật không ứng dụng vào một bối cảnh khác. Thông thường ngụy biện phi thể thức được khoác vào chiếc áo lí lẽ. Chẳng hạn như nếu chúng ta giả định rằng Thượng đế đối xử công bằng với mọi người, thì những phát biểu sau đây là những lời giải thích phi thể thức: “Tôi mới hết bệnh ung thư”, “Cầu nguyện với Thượng đế đi, Ngài là đấng toàn năng”, “Nhưng Ngài có chữa trị cho những bệnh nhân ung thư khác không”, “À, Thượng đế rất huyền bí.”

    Nhóm 8. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận

    37. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

    38. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sài Gòn thì tôi đang ở Việt Nam. Tôi hiện không ở Sài Gòn, do đó, tôi không ở Việt Nam”.

    39. Giả định hư. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kỹ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”

    40. Ngụy biện bốn ngữ. ( Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

    41. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

    Nhóm 9. Các nhầm lẫn khác

    42. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

    43. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”

    44. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”

    45. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

    46. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

    47. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể là quái dở thế nào, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa.

    48. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

    Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bặ bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên. Có khi nào anh thấy hai thú vật cùng giới tính giao phối với nhau không?”

    49. Ngụy biện “Tu quoque”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

    50. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác. Tuy nhiên, những ai thích tìm hiểu vấn đề ngụy biện thống kê có thể tìm đọc cuốn sách rất nổi tiếng của Darrell Huff, có tựa đề là “How to lie with statistics” (tạm dịch: “Làm thế nào để lừa dối bằng thống kê”).

    ***

    Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kỳ nổi tiếng về ngụy biện.

    Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

    Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kỳ kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

    Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người trong chúng ta tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều càn rỡ về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho chúng ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

    Để không trở thành những nô lệ, chúng ta cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và (hay) đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Chúng ta cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bình. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, chúng ta phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

    Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất [*]. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

    Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kì 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.

    Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.

    —————————-
    [*] Đơn cử về câu chuyện “Mèo chúa, mèo dân”, chuyện kể như sau: Chúa Trịnh có một con mèo mà Chúa rất đỗi yêu quí. Mỗi bữa ăn của mèo Chúa đều cho mèo ăn cơm thịt cá. Muốn chơi khăm Chúa, Quỳnh bèn bắt trộm con mèo của Chúa đem về nhà mình. Đến bữa ăn, Quỳnh đem ra hai đĩa thức ăn, một đĩa cơm rau, một đĩa cơm thịt, và Quỳnh cầm chiếc roi chờ đấy. Do quen ăn thịt cá nên con mèo của Chúa chạy ngay sang đĩa thức ăn quen thuộc của mình. Mỗi lần như vậy thì Quỳnh dùng roi quất cho con mèo rõ đau. Chừng vài lần thì con mèo thôi không dám bén mảng đến đĩa cơm thịt nữa, đói quá rồi cũng ăn cơm rau ngon lãnh. Tin Quỳnh ăn cắp mèo rồi cũng đến tai Chúa. Chúa sai Quỳnh đến hỏi cho ra cớ sự. Quỳnh lí lẽ: Mèo của chúa là mèo cao sang đài các, nên bữa ăn cũng sang trọng; còn tôi nhà nghèo, nên mèo tôi cũng chỉ ăn cơm rau. Bây giờ nếu Chúa bảo tôi đánh cắp mèo của Chúa, hãy thử đem ra đây hai đĩa thức ăn, một đĩa có thịt một đĩa chỉ cơm rau. Nếu mèo ăn cơm thịt là mèo của chúa, mà nếu nó ăn cơm rau thì là mèo của tôi”. Chúa ưng thuận bèn sai y truyền. Con mèo của Chúa vẫn theo bản năng của mình, nhưng khi thấy Quỳnh nhấp nhấp cái roi, nó sợ quá, bèn bước qua đĩa cơm rau ăn ngon lành. Quỳnh mới vỗ tay reo lên :”Đấy mèo của Chúa thì phải ăn thịt cá, còn mèo dân của tôi chỉ ăn cơm rau, thì rõ là mèo của tôi chứ tôi có đánh cắp mèo của Chúa bao giờ!”. Nói rồi Quỳnh đắc thắng ôm con mèo của Chúa đi thẳng, để mặc cho Chúa tức giận, biết bị Quỳnh chơi khăm mà không làm gì được.

    Ở đây lí luận của Trạng Quỳnh phạm phải lối nguỵ biện “loại bỏ tiền đề” như đã nêu ở trên.

    ______________________________
    Nguồn: http://www.ykhoanet.com/binhluan/nguyenvantuan/26042008_bantandinh_vanhoatranhluanvanguybien.htm

  • Hai yếu kém chết người của doanh nghiệp Việt

    Vì nền kinh tế Việt dựa trên ban phát bổng lộc của quan chức, các doanh nhân Việt thường có cái nhìn méo mó về ưu tiên phục vụ. Đó cũng là lý do tại sao các doanh nghiệp lớn của Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng để cạnh tranh trên biển lớn.

    Trong quá trình thay đổi để tiến bộ, nhiều doanh nhân Việt hỏi tôi về gót chân Achilles của họ. Tôi và các nhà đầu tư nước ngoài thường hay trò chuyện về vấn đề này. Theo góc nhìn của chúng tôi, hai khuyết điểm của đa số doanh nghiệp Việt rất dễ xác nhận: một là khả năng quản trị tài chính và hai là rủi ro về đạo đức kỷ cương.

    Dĩ nhiên, đây chỉ là một nhận xét bàng quan, chưa được khảo sát kỹ càng về phân tích định lượng (quantitative) hay định chất (qualitative). Nhưng các bạn nào muốn làm một luận án trên giả thuyết này, tôi tin là các dữ kiện và số liệu sẽ chứng minh tiền đề nói trên.

    Đòi hỏi căn bản trong việc quản lý tài chính

    Một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, hình thành bằng sự góp vốn của cổ đông đại chúng hay thành viên trong gia đình, đều phải lưu tâm và tìm giải pháp cho các nhu cầu về quản trị tài chính sau đây:

    Dòng tiền (cash flow) cho doanh nghiệp:

    Rất dễ hiểu: tiền thu vào phải luôn luôn nhiều hơn tiền chi ra. Tiền thu vào gồm doanh thu, tiền khách trả nợ, tiền vay của ngân hàng, của nhà cung cấp, của khách hàng, tiền góp vốn của các cổ đông… tiền dự trữ. Tiền chi ra là tất cả các chi phí như nhân viên, vật liệu, văn phòng, tiền nợ đáo hạn, ngắn hay dài hạn, tiền đầu tư để khuếch trương hay để đem đổ vào bãi rác, tiền bôi trơn, tiền dự phòng cho sự cố…

    Nếu dự đoán thu luôn nhiều hơn chi trong 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm , thì tài chính doanh nghiệp có thể nói là vững vàng, không nhiều lo ngại.

    Thành quả tài chính

    Ngoài dòng tiền, quản trị tài chính còn liên quan đến việc đo lường hiệu quả của doanh nghiệp. Những chỉ số như IRR (tỷ lệ hoàn trái nội bộ), ROI (hoàn trái trên đầu tư), ROA (hoàn trái trên tài sản), acid test (tài sản ngắn hạn tên nợ ngắn hạn)… là những tín hiệu để xác định hiệu năng của doanh nghiệp so với các đối thủ cùng ngành. Người ta bỏ ra $1000 để kinh doanh và lãi được $100 mỗi năm (10%) trong khi bạn đầu tư $10,000 chỉ để đem về $500 (5%) thì nhanh hay chậm, họ sẽ vượt mặt bạn dễ dàng.

    Kỷ luật tài chính

    Trong các doanh nghiệp gia đình, tôi thường thích nhìn các bà vợ giữ tiền hơn. Đàn bà họ tỉ mỉ, căn cơ và có trực giác bén nhậy hơn các ông (thường có thói vung tay quá trán vì sĩ diện bạn bè và hay lạc quan vô lối). Dù thế nào, phải kiểm soát chặt chẽ cái túi tiền (từ thu đến chi) để không sa đà vào những ổ gà của hành trình làm ăn (luôn luôn hiện diện bất cứ lúc nào và nơi nào, nhất là ở các quốc lộ Việt).

    Ngân sách đề ra phải được mọi bộ phận tuân thủ và thực thi; mọi điều chỉnh phải được điều nghiên chính xác; kể cả việc cắt giảm hay gia tăng vì sự cố bất thường.

    Dự đoán nhu cầu tương lai

    Ai cũng muốn đầu tư vào một doanh nghiệp có khả năng phát triển. Dĩ nhiên đó phải là một khuếch trương trong ngành nghề cốt lõi, không phải đem tiền lời của công ty bánh kẹo đi vứt vào một khu nghỉ dưỡng vì bà vợ của quan tổng thích phong cảnh khí hậu nơi đây. Người quản lý tài chính phải phân tích mọi chỉ số đầu tư dựa trên dự đoán và phải đồng ý về tính khả thi.

    Mọi phát triển đều cần vốn đầu tư, từ tiền lời tích lũy nội bộ hay tiền vay hay tiền góp vốn từ các cổ đông bên ngoài. Người quản lý tài chính theo đúng vai trò phải duyệt khán và đồng ý với kế hoạch phát triển này ít nhất 6 tháng trước đó và phải lo liệu phần vốn đầy đủ trước khi tiến hành dự án khuếch trương.

    Một nguyên lý quan trọng khác là đừng bao giờ dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn.

    Báo cáo và kiểm toán

    Nhiệm vụ trước nhất của nhà quản lý tài chính là phải có báo cáo tài chính chính xác và kịp thời cho các cổ đông (dù là công ty gia đình) và cho sở thuế. Những công ty lớn cần phải làm việc chặt chẽ với một công ty kiểm toán độc lập để thanh tra mọi số liệu. Việc báo cáo kiểm toán nếu thực thi nghiêm túc sẽ tạo niềm tin cho cổ đông và họ sẽ sẵn sàng góp vốn khi công ty cần tiền. Đây là yếu tố quan trọng trong tính thanh khoản của cổ phiếu, dù công ty đã niêm yết hay chưa.

    Rất ít doanh nghiệp Việt đạt được chỉ tiêu cao trong cả 5 vấn đề căn bản trên, ngay cả những công ty đã niêm yết trên sàn nhiều năm. Tại đây, vai trò của người Giám Đốc Tài Chánh (CFO) rất mờ nhạt và quyền hành chi thu, ngân sách, quyết định đầu tư, đôi khi ngay cả việc soạn thảo báo cáo tài chính cũng thường nằm gọn trong tay người Tổng Giám Đốc (CEO) hay bà vợ của ông ta.

    Khi quỹ đầu tư nước ngoài đến thăm cơ sở của khách hàng, người chúng tôi muốn nghe nhiều nhất là vị CFO. Các vị CEO thường chỉ lập đi lặp lại những gì chúng tôi đã đọc trên brochure hay website, không gì mới lạ. Các chi tiết về số liệu và cách thức quản trị tài chính cho chúng tôi một tầm nhìn chính xác và chiến lược hơn về công ty. Tiếc thay không mấy doanh nghiệp Việt thấu hiểu điều này.

    Đòi hỏi căn bản về đạo đức kỷ cương

    Một khía cạnh yếu kém khác là sự cẩu thả, vô tâm của doanh nhân Việt trong việc xây dựng một văn hóa công ty dựa trên căn bản dài hạn, đạo đức và chuẩn mực cao cấp. Việc thể hiện “giá trị mềm” của doanh nghiệp thường thu gọn vào các PR hay lễ hội hoành tráng phô trương, ban phát huân chương, đánh bóng cho tên tuổi cá nhân, và các quan chức chống lưng… thay vì cho nhu cầu của khách hàng, sáng tạo của sản phẩm hay sự bền vững của thương hiệu.

    Tầm nhìn dài hạn và tập trung

    Người quản lý doanh nghiệp phải biết rõ tầm nhìn và giới hạn của công ty để có một kế hoạch phát triển lâu dài và bền vững. Không một hành trình kinh doanh nào mà không gặp trắc trở và thách thức. Vì vậy, người lãnh đạo phải biết rõ đích đến của doanh nghiệp và vững tay lái trước các cơn sóng lớn nhỏ thường làm lệch phương hướng.

    Mọi thủ thuật chộp giựt, lấy ngắn nuôi dài, đi tắt đón đầu…có thể tạo hiệu ứng nhất thời, nhưng sớm muộn gì, các trò chơi ngắn hạn này sẽ có tác hại lớn là làm doanh nghiệp đi quá xa ra khỏi mục tiêu và vướng vào lầy lội của tình thế.

    Sự thỏa mãn của khách hàng

    Một doanh nghiệp hiện đại sống và chết vì khách hàng. Sản phẩm phải thích hợp và cải tiến thường trực để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng. Dịch vụ hậu mãi phải hoàn thiện để giữ sự trung thành của khách hàng. Yếu tố sáng tạo là cách tạo thích thú cho khách hàng để biến họ thành một công cụ truyền bá sản phẩm ra các cộng đồng xã hội.

    Tóm lại, khách hàng là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp. Vì nền kinh tế Việt dựa trên ban phát bổng lộc của quan chức, các doanh nhân Việt thường có cái nhìn méo mó về ưu tiên phục vụ. Đó cũng là lý do tại sao các doanh nghiệp lớn của Việt Nam vẫn chưa đủ khả năng để cạnh tranh trên biển lớn.

    Tôn trọng các cổ đông thiểu số

    Mỗi công ty, dù có viết ra thành văn bản hay không, phải có một cương lĩnh để mọi thành phần nhân viên theo đó mà vận hành. Như một quốc gia có hiến pháp, tuyên ngôn về dân quyền, các bộ luật…doanh nghiệp phải có cương lĩnh, chiến lược và điều lệ…để không bị rối loạn khi gặp khó khăn hay khi có thay đổi về bộ phận quản lý.

    Một yếu tố quan trọng trong cương lĩnh là sự tôn trọng quyền lợi của các cổ đông yên lặng (silent) hay thiểu số (minority).

    Nhiều vị quản lý Việt không hiểu rằng tiền góp vốn từ chính phủ (DNNN), hay cổ đông công chúng (public) hay quỹ và các đầu tư cá nhân; ngay cả vốn vay từ ngân hàng là tiền của người khác (OPM) không phải tiền của riêng mình. Họ thoải mái quá mức với chi thu, đến độ gần như phạm pháp. Hoàn toàn không trách nhiệm, điều quan tâm duy nhất là sự “hạ cánh an toàn” khi hết nhiệm kỳ hay khi bị đuổi. Đây là rủi ro lớn nhất thường làm các nhà đầu tư nước ngoài chùn tay khi quyết định đầu tư.

    Thêm vào đó, thay vì một chính sách “thông tin toàn bộ và kịp thời” (on-time full disclosure) theo như luật định, nhiều nhà quản lý che giấu, trì hoãn, sửa đổi hay sáng tạo thông tin để tránh những phản ứng tiêu cực cho vị trí và quyền lợi của họ. Tiếc thay, đây có vẻ là lãnh vực duy nhất họ có nhiều sáng tạo.

    Đào tạo và thăng tiến đội ngũ nhân viên

    Bổn phận pháp lý và nhu cầu giữ nhân viên giỏi là một vấn đề. Tuy nhiên, trên góc cạnh tạo phát triển bền vững, doanh nghiệp cần tạo cho đội ngũ cán bộ một niềm tin vào tương lai đường dài của doanh nghiệp và các quyền lợi đính kèm. Ngoài lương bổng và nhu cầu về thăng tiến, các nhân sự đều muốn tham dự vào thành công sau cùng của đơn vị.

    Hai vũ khí mà các doanh nghiệp Việt hay thiếu sót so với nước ngoài là các chương trình huấn luyện liên tục, và các quyền mua cổ phiếu (options) để gài buộc nhân viên vào với công ty trong hợp tác lâu dài.

    Nhưng trên hết, ban quản lý phải đối xử công bằng trong mọi hành động và phán đoán, không phân biệt liên hệ gia đình hay xã hội, hoàn toàn dựa trên kỹ năng và thành quả của nhân viên.

    Lợi ích cho xã hội và nghĩa vụ với tha nhân

    Sau cùng, một doanh nghiệp phải có nghĩa vụ với cộng đồng xã hội chung quanh. Nếu không tạo ra một đóng góp giá trị nào, ít nhất doanh nghiệp cũng phải tôn trọng môi trường sinh hoạt của người dân và gia đình họ. Những tệ nạn gây ô nhiễm trong không khí, trên sông biển, thấm vào các mực nước ngầm, việc xử lý rác thải, rác y tế nguy hiểm, tiếng ồn và an toàn giao thông…là những kỷ cương không những chỉ quan trọng trên phương diện pháp lý mà còn là một nghĩa vụ để thể hiện đạo đức của doanh nghiệp.

    Một tấm gương khác để doanh nghiệp soi mặt mình là không lừa bịp hay coi thường khách hàng bằng những quảng cáo sai lạc, giả dối, những hàng nhái thương hiệu, những khuyến mãi bịp bợm, những PR tạo sốc không cần thiết hay vu khống về đối thủ.

    Nói tóm lại, trên luật pháp của người, còn có luật pháp của “trời”. Của cải, danh vọng, ngay cả quyền lực, đều là tạm bợ. Chúng ta chỉ hạnh phúc và doanh nghiệp chỉ có thể “thành công” khi chúng ta tuân thủ luật trời, dưạ trên bất cứ tín ngưỡng hay niềm tin nào.

    Trong khi doanh nhân thường than phiền về cơ chế hay thủ tục lỗi thời của chính phủ, về thị hiếu sính ngoại hay ham rẻ của khách hàng, về điều kiện suy thoái của kinh tế toàn cầu…chúng ta cũng cần nhìn lại chính mình để khắc phục những yếu kém căn bản trong quá trình đổi mới để cạnh tranh…

    Alan Phan

    —–

    T/S Alan Phan là một doanh nhân bôn ba làm ăn trên 43 năm qua tại Mỹ và Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại các đại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) và Southern Cross (Úc). Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.

  • Vì sao tôi nghèo mà anh lại giàu?

    Ở đời người ta thường hỏi “Làm giàu thế nào?” chứ ít ai chịu hỏi “Vì sao tôi nghèo?”. Chính vì vậy nhiều người không bao giờ nhìn thấy những nhược điểm của mình để tự khắc phục và cuối cùng nghèo vẫn hoàn nghèo.

    Chuyện anh nông dân

    Có anh nông dân tên Nghèo, ông bà để lại cho 3 thửa ruộng. Mỗi năm ba vụ bán mặt cho đất bán lưng cho trời, sau khi trừ tiền giống, tiền phân, tiền phơi … và không bị lũ lụt, sâu rầy thì chỉ kiếm đủ tiền chi tiêu ăn uống. Năm ngoái xã mở đường nhựa qua ruộng Nghèo, tiền đền bù cũng được kha khá, nhưng chỉ ăn được hơn năm thì lại…nghèo.

    Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

    Một anh nông dân khác tên Giàu, nhà cũng 3 thửa ruộng, cũng làm quần quật như anh Nghèo. Cuối vụ đập lúa xong anh hốt trấu về om bếp, xin người ta rơm rạ rồi bó lại thuê xe thồ đến bán cho nhà người xóm trên nuôi bò. Tối nằm vắt tay lên trán anh chợt nghĩ, sao nông dân thì cứ phải bán thóc nhỉ?

    Thế rồi anh học người ta lấy gạo làm sợi bún, đem bỏ mối ngoài thị xã. Anh thấy hạt gạo chỉ chế biến chút thôi đã bán được giá gấp 5 lần. Thấy Nghèo mất ruộng, Giàu cho thuê ruộng cày, mua gạo của Nghèo về làm bún bán, không làm ruộng nữa.

    Chuyện cô thợ dệt

    Cô thợ dệt tên Nghèo, làm công nhân trên tỉnh, một ngày đạp máy 12h, đã 4 năm nay cô chỉ may cái túi vào áo. Vật giá leo thang, tiền lương vẫn thế, khó sống quá, cô rủ chị em đình công đòi tăng lương, chủ bảo 4 năm cô cũng chỉ làm được từng ấy việc, sao tôi phải tăng lương?

    Một cô thợ may khác tên Giàu, làm cùng khâu với cô Nghèo. Giàu làm được 3 tháng biết việc rồi là xin sang tổ khác, cứ thế 2 năm sau đã thạo làm hết các khâu. Chủ đưa cô lên làm trưởng ca, lo chỉ bảo đôn đốc chị em trong xưởng.

    Cuối năm rồi Giàu xin nghỉ về quê 3 tháng, dạy chị em trong làng xỏ kim may áo, vay tiền mua máy rồi lên tỉnh nói với chủ “chị giao áo cho em may, thợ em ở nhà không phải ăn cơm ở trọ nên em giao hàng giá rẻ hơn cho chị”. Còn Nghèo đâu biết vì có những người như Giàu mà Nghèo chả được tăng lương.

    Chuyện anh họa sĩ

    Một anh họa sĩ tên Nghèo, làm công ở xưởng chép tranh. Nghèo khéo tay vẽ đẹp, tranh của danh họa nào vẽ cũng giống một chín một mười. Nhưng đã sáu năm rồi, Nghèo vẫn cứ … chép tranh.

    Còn anh họa sĩ tên Giàu, chép tranh chả đẹp bằng Nghèo, chủ bán không được nên cho nghỉ việc. Giàu ngẫm tranh chép cũng là đồ giả mà lại đắt, chỉ bọn trọc phú mới mua. Giàu phóng tranh thành ảnh, lồng khung sang trọng rồi bán giá chỉ bằng 1/4 tranh của ông chủ nơi Nghèo làm việc. Thấy Giàu phất nhanh Nghèo hỏi cách nào, Giàu bảo “tại tớ bán khung mà người thì lại mua tranh”.

    Ngẫm ở đời người ta thường hỏi “Làm giàu thế nào?” chứ ít ai chịu hỏi “Vì sao tôi nghèo?”

    __________________________________________
    Nguồn: http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2012/08/vi-sao-toi-ngheo-ma-anh-lai-giau/

  • Đôi khi tình yêu kéo dài yêu thương. Nhưng đôi khi nó bị thay thế bởi nỗi đau

    Lời tựa: Một buổi chiều ngồi ở cà phê sân bay tiễn một người bạn, đong đưa với tình khúc No.1 của Adele…Bất chợt nhớ đến người bạn của mình, một cô gái đẹp với những cảm xúc rất thật khi bộc lộ với mình…Xin tự hóa thân thành người bạn gái này để cảm nhận ca khúc tuyệt vời này và kể cho các bạn nghe về cuộc đời một con người có đầy đủ: vui, buồn, nỗi đau và cả hy vọng…
    Hy vọng cô ấy đọc được và hãy cười lên bạn nhé….

    Nàng rất mê giọng hát của Adele và tình khúc Someone like you” sao lại gần gũi và giống hoàn cảnh của nàng đến thế. Chính vì thế chiếc điện thoại HTC XE của nàng có rất nhiều nhạc của Adele…Chiều nay hoàng hôn đẹp quá, đứng trên lầu sáu mươi của tòa nhà Bitexco Finacial nhìn ra bầu trời rộng nàng thấy mình lẻ loi quá…

    Hai mươi tám tuổi, nàng tự tin mình vẫn còn trẻ, là một người phụ nữ hấp dẫn có cuộc sống ổn định và chưa lần mặc áo cô dâu. Nàng đã từng yêu và đã từng đau vì tình yêu của quá khứ, quá khứ lúc nào cũng đeo bám nàng trên mỗi bước đi.

    Nàng vẫn luôn tự hỏi bản thân mình muốn trở thành một người phụ nữ thành đạt hay chỉ đơn giản là là một người phụ nữ với những hạnh phúc đời thường là: lấy chồng, sanh con và chăm sóc gia đình nhỏ với tất cả yêu thương. Câu hỏi lúc nào cũng dễ nhưng câu trả lời thì chỉ là những mơ mộng và ảo tưởng.

    Tình yêu đầu tiên của nàng bắt nguồn tự một cuộc gọi…lộn số! Thế đấy, trong cuộc đời có những lúc ta “chạm” vào nhau từ những hoàn cảnh không ngờ. Giọng của anh chàng người Bắc đặc tiếng Hà Nội làm nàng rung rinh và nàng đã quen người đàn ông đó bốn năm trời.

    Anh là một kỹ sư điện tử có năng lực cao về bằng cấp, khả năng ngoại ngữ Anh – Nhật giỏi, anh làm việc cho Tập đoàn Sharp của Nhật Bản. Đối với nàng đàn ông không cần đẹp trai, như bao phụ nữ khác nàng đặt chỉ số an toàn lên trên hết. Quen nhau qua điện thoại hơn tám tháng nàng mới chấp nhật gặp anh, một buổi tối ở cà phê Bố già 3. Nàng hảo ngọt và cà phê Bố già 3 là nơi nàng thường ngả lưng với những ly kem ngọt ngào.

    Lần đầu tiên đó đã cách đây gần năm năm mà mỗi lần nhớ lại vẫn nguyên vẹn, vẫn còn đó dáng người cao, đôi mắt sáng và nụ cười mạnh mẽ của anh làm nàng mê đắm. Phụ nữ luôn cố gắng kiềm chế cảm xúc để giữ nét duyên thầm. Nàng cũng phải cố gắng để không cười đáp lại, để chứng minh với nàng thì anh cũng…bình thường thôi.

    Anh là con trai Hà Thành và điều này làm nàng thích, nàng cũng sinh ra và lớn lên hết tuổi thơ ở Hà Nội. Với nàng Hà Nội lúc nào cũng đẹp, cũng đáng yêu, những kỉ niệm về Hà Nội là ký ức tuyệt vời với Hồ Gươm, Cốm xanh, với hoa sữa Nguyễn Du, phở Loan Lê Duẩn, ngã tư Sở ồn ào…

    Anh và nàng quen nhau, cả hai đều ít nói, vì vậy những cuộc hẹn cũng không có nhiều những câu chuyện. Thay vào đó là những bàn luận về công việc, nếu ai đó bắt gặp nàng và anh hẹn hò sẽ tưởng hai người đang là đối tác bàn về một hợp đồng làm ăn. Nàng thích sự tự lập của anh, thích cách anh nhìn đời và đối xử với những người xung quanh. Mẹ đã từng nói với nàng “đàn ông tốt thể hiện ở ngay cách họ đối xử với anh em, họ hàng”. Anh là một người nhiệt thành với các em, với những người anh quen. Nàng vốn sợ hiến máu và cho rằng đó là một việc làm ngốc ngếch, thế mà anh thì hiến máu mỗi năm một lần, nàng thấy thương anh hơn.

    Trong bài hát Someone like you có câu hát “Sometimes it lasts in love. But sometime it hurts instead” đầy cô đọng. Tạm dịch câu hát đó là “Đôi khi tình yêu kéo dài yêu thương. Nhưng đôi khi nó bị thay thế bởi nỗi đau”. Chính xác, tình yêu của anh đã từng làm cho nàng mê đắm và ngất lịm trong men say tình. Song khi anh quyết định ra đi và định cư lâu dài ở Nhật Bàn thì đó là nỗi đau, nỗi đau đã thay thế tình yêu. Nàng muốn chạy theo anh, chạy theo tiếng gọi của con tim nhưng lý trí đã không cho nàng làm vậy. Nàng còn bố mẹ già, còn các em và nàng yêu đất nước này biết bao.

    Sự lựa chọn nào cũng khó khăn, nàng đã lựa chọn và nàng không hối hận, nàng là thế. Nàng biết có thể cả đời nàng sẽ không gặp được ai như anh song tương lai vẫn đón chờ nàng với những yêu thương mãnh liệt. Từ khi anh đi nàng tập một cuộc sống mới ít tiếng cười hơn, cà phê một mình nhiều hơn và lấy công việc làm bạn. Mỗi lần đi mừng đám cưới bạn bè nàng cũng đôi lúc chạnh lòng, nàng thèm một vòng tay ôm chặt và thèm cả những nụ cười âu yếm mà những đôi tình nhân dành cho nhau.

    Nàng vấn nhớ về anh như một thói quen khó bỏ, một thói quen xấu – nàng nghĩ vậy! Có thể lúc này anh đã có gia đình, anh đã có một mái ấm hạnh phúc, nếu như vậy dù chạnh lòng thì nàng vẫn mừng cho anh. Và như Adele đã hát “Nevermind, I’ll find someoce like you – Đừng bận tâm, rồi em sẽ tìm thấy một ai đó giống như anh”. Nàng muốn quá khứ ngủ yên, nàng muốn những ký ức sẽ luôn luôn đẹp và thời gian sẽ tô điểm cho nó màu của kỉ niệm. Tất cả mọi thứ sẽ nhuốm màu thời gian, thời gian sẽ làm trái tim nàng bớt những thổn thức, bớt đi những phút giây chỉ biết sống với quá khứ đã qua.

    Chiếc điện thoại Nokia 1110i ngày xưa để nàng giữ liên lạc với anh được cất vào một chiếc rương nhỏ và khóa lại. Nó là minh chứng cho những cuộc hẹn, những chiều cuối tuần nàng “tám” chuyện với anh, những tin nhắn yêu thương nồng cháy. Bây giờ nàng thay thế nó bằng một chiếc HTC XE hợp model, nhiều tính năng cao cấp, hỗ trợ tốt công việc cá nhân cũng như nhu cầu giải trí của nàng. Mỗi lần nhìn chiếc HTC XE nàng lại thán phục trí óc của con người, con người đã làm ra những sản phẩm công nghệ gần như hoàn hảo. Nếu ai đã từng xem những bộ phim khoa học viễn tưởng sẽ thấy những chiếc smartphone hiện nay là giấc mơ của cả nhân loại.

    Quá khứ đã qua, tình yêu đẹp như cổ tích đã không còn, chỉ có hiện tại và nàng muốn con tim mình vui trở lại. Nàng sẽ mở lòng mình và đón nhận cuộc sống bằng tất cả những rung động, những cảm xúc thật. Và biết đâu sẽ có ai đó “chạm” vào nàng như anh ngày xưa nhưng người mới này sẽ giữ nàng lại bằng một đám cưới…Hai mươi tám tuổi đối với nàng không là vấn đề, nàng có thể yêu ở tuổi bốn mươi, thậm chí năm mươi – nàng nghĩ vậy đấy!

    Nàng tự mỉm cười, hoàng hôn tỏa những tia nắng vàng thật đẹp trên những mái nhà, những con chim sẻ bắt đầu bay về tổ…Nàng nhép miệng hát theo Adele “Nevermind, I’ll find someoce like you…”
    [youtube http://www.youtube.com/watch?v=jCya1yiFFP4]
    ____________________________________
    Nguồn: http://www.hdvietnam.com/diendan/121-ban-luan-am-nhac/374762-sometimes-lasts-love-but-sometime-hurts-instead.html
  • Không có thì giờ

    Người ta phỏng vấn một bà gìa gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống như thế nào?

    – “Nếu được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa- bà già nói- thì tôi sẽ dám…phạm nhiều sai lầm hơn. Tôi sẽ ngờ nghệch hơn là tôi đã ngờ nghệch trong cuộc đời này. Tôi sẽ thảnh thơi hơn, linh hoạt hơn. Tôi sẽ coi ít thứ nghiêm chỉnh hơn. Tôi sẽ trèo núi lội đèo nhiều hơn, bơi lội nhiều hơn…Tôi sẽ ăn nhiều…kem hơn. Dĩ nhiên tôi sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nhưng tôi sẽ thực tế hơn là chỉ mơ mộng. Tôi sẽ bớt…lành mạnh hơn. Ôi, tôi đã có những khoảnh khắc của đời mình và tôi muốn có nhiều hơn những khảnh khắc đó, cái nọ nối cái kia, cái nọ tiếp cái kia thay vì tôi cứ sống để chờ đợi…Nếu tôi được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa tôi sẽ đi chân không nhiều hơn, sẽ bớt mang theo dù và dầu nóng, bình thủy các thứ…Tôi sẽ hái nhiều hoa cúc hơn…”.

    Thỉnh thoảng có lẽ ta cũng nên tự hỏi mình một câu như vậy. Có phải ta cũng thường sống trong nhớ tiếc hoặc đợi chờ, mà quên đi cái quà tặng quý báu của cuộc sống chính là sự hiện diện của ngày hôm nay, của giây phút này, của ở đây và bây giờ. Tiếng Anh có một từ khá tuyệt: present, vừa có nghĩa là hiện tại, sự hiện diện, có mặt, lại vừa có nghĩa là món quà. Ta nghe nơi này nơi khác người ta luôn nói, không có thì giờ, không có thì giờ. Đến nỗi một nhà thơ phải kêu lên:

    …Không có thì giờ!
    Chim lấy đâu mà về tổ.
    Tôi lấy đâu mà làm thơ.
    Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết!
    (Nguyên Sa).

    Tiếng chim và khế ngọt vẫn có đó, ánh nắng và sóng biển vẫn có đó, đèo cao và suối mát vẫn có đó, nhưng…hãy đợi đấy, còn phải dành thì giờ để nhớ nắng hôm qua, mưa năm nọ, tiếng chim ngày cũ, rồi còn dành thì giờ để mong ngóng tương lai, sống trong tương lai như cô nàng Perrette mang bình sữa ra chợ! Ta chờ… lớn. Chờ thi đậu. Chờ thành đạt. Chờ có tiền. Chờ cưới vợ. Chờ đẻ con. Chờ con lớn…Chờ con thi đậu. Cứ thế. Cho đến một hôm thảng thốt: “Rồi tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ, một ngày đầu thu… ” (TCS). Mùa xuân sao không đi hái lộc, mùa hạ sao không dẫn bầy em nhỏ đi tắm sông? “Hạnh phúc rất đơn sơ” vậy mà Khổng Tử suốt đời quần quật chỉ mong được thế đôi lần! Quả thật chúng ta thường sống với dĩ vãng, một thời đã qua hoặc sống với tương lai, một thời chưa tới.

    Còn hiện tại thì tối tăm mặt mũi; không có thì giờ! Không kịp ăn sáng, không kịp tắm (không kịp thay đồ?). Hộc tốc. Luôn luôn hộc tốc. Nhai ngoàm ngoằm. Đi vội vàng. Thở hào hễn. Và hùng hục. Lâm Ngữ Đường hơn nửa thế kỷ trước đã chê người Mỹ có ba cái tật xấu là luôn muốn tăng hiệu năng, muốn đúng giờ và muốn thành công. Ông nói: ” Họ luôn cau có và quạu quọ vì ba cái tật đó đã cướp đi của họ sự thư nhàn, lại còn làm cho họ luôn bị căng thẳng thần kinh vì luôn cầu toàn trách bị! Viên chủ bút Mỹ lo bạc đầu vì muốn không có một lỗi in nào trong tạp chí của ông ta, còn viên chủ bút Trung Hoa (dĩ nhiên, cách đây hơn nửa thế kỷ!) khôn hơn, để cho độc giả có cái thú tìm ra được ít nhiều lỗi trên báo! Đời sống bây giờ biến người ta thành cái…đồng hồ. Người Mỹ sống như một học sinh tiểu học, giờ nào việc đó, từng giờ từng phút “. Rồi ông kêu lên: Đời sống mà như vậy thì còn giá trị gì nữa (Sống đẹp, LNĐ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê).

    Ngày nay thì các “tật xấu” đó đã toàn cầu hoá, đã trở thành bệnh của thời đại, đến nỗi bây giờ người ta bị cao huyết áp, bị tim mạch, bị trĩ, bị bón….cũng vì không có thì giờ! Nguyễn Công Trứ nói: “So lao tâm lao lực cũng một đàn/ Người trần thế muốn nhàn sao được?” Ý ông là chỉ có tiên mới sướng. Nhưng bây giờ ta cũng có tiền rồi, mà có tiền thì mua tiên cũng được quá đi chứ. Tiện nghi ngày càng cải thiện. Đằng vân giá võ, thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ, thần giao cách cảm không thiếu thứ gì! Bấm cái nút gặp ngay người trong mộng. Trò chuyện với người cách xa nửa vòng trái đất như đang ngồi trước mặt…

    Thế mà vì sao ta không được “sướng như tiên”? Có lẽ là do cái nhu cầu giả tạo cứ ngày càng dày đặc thêm, cứ nhồi nhét mãi rồi thì đến một lúc tưởng là nhu cầu thật. Đẻ con thì phải đẻ mổ, chọn giờ để mong sau này con được làm vua. Ai cũng làm vua cả thì ai sẽ là thường dân cho vua trị vì? Nhưng vua đâu chẳng thấy chỉ thấy nhiều trẻ thiếu oxy não, liệt thần kinh, bị tâm thần… Các thứ sữa dành cho trẻ con bây giờ thì phải có chất tạo… thông minh. Làm như xưa nay không có các sản phẩm đó thì thế giới chỉ toàn người ngu dốt!

    Cho nên Tô Đông Pha mới buông thuyền sông Xích Bích, Bạch Cư Dị mới xuống ngựa dừng chèo ở bến Tầm Dương, và Nguyễn Công Trứ mới… mơ ước:

    Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch
    Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn
    Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn
    Đồ thích chí chất đầy trong một túi…
    (Kẻ sĩ)

    Bây giờ “đồ thích chí” ta còn có thể chất đầy “trong một xe” đời mới, chỉ “không có thì giờ!” thôi vậy!

    (Nguồn: http://www.dohongngoc.com/web/huom-huom/thu-goi-nguoi-ban-ron/khong-co-thi-gio/#more-474)

  • Những con khỉ không hỏi tại sao

    (Nguồn ảnh: http://photo.tamtay.vn/photo/view/29174)

    Có một câu chuyện xưa lắm, xưa đến nỗi anh không nhớ là ai đã kể cho anh nghe và lúc nào, chỉ nhớ là nó liên quan đến vài con khỉ, một cái chuồng, một trái chuối và một bình chữa lửa.

    Em xây một cái chuồng rộng cỡ cái phòng ngủ, và lùa năm con khỉ vào một phía. phía còn lại em để một trái chuối. rồi em cầm bình chữa lửa đứng đợi. khỉ thì thích ăn chuối, nên không sớm thì muộn, một trong những con khỉ sẽ bắt đầu chạy về phía trái chuối. khi nó làm như thế, em lấy bình chữa lửa xịt vào những con khỉ còn lại. thay trái chuối mới nếu cần, và lập lại quá trình này. khỉ rất thông minh, nên chúng sẽ nhanh chóng nhận ra cái luật này: nếu mà có con khỉ nào tiến về phía trái chuối, cả đám còn lại sẽ bị xịt bột chữa lửa. và để tự bảo vệ, cả đàn sẽ bắt đầu tấn công bất kỳ con nào có ý định ăn chuối.

    Khi hiện tượng này xảy ra, em bắt một con khỉ ra khỏi chuồng, và thay vào đó bằng một con khỉ mới. con khỉ mới sẽ gia nhập đàn, cố gắng kết bạn, và chắc chắn sẽ muốn ăn trái chuối. và những con khỉ còn lại, biết rõ điều gì sẽ xảy ra, sẽ tấn công con khỉ mới để ngăn không cho em xịt chúng. sau vài lần, con khỉ mới sẽ hiểu ra, và bắt đầu tham gia tấn công nếu một con khỉ khác tiến về phía trái chuối. khi hiện tượng này xảy ra, em bắt thêm một con khỉ trong số bốn con khỉ cũ còn lại ra khỏi chuồng, và thay vào đó bằng một con khỉ mới khác. sau khi lập lại quá trình đó vài lần, sẽ có một thời điểm không có con khỉ nào đang bị nhốt từng bị xịt bột chữa lửa; sự thật là chúng cũng chưa từng thấy cái bình chữa lửa tròn méo ra sao. nhưng mà điều hay ho là, chúng vẫn sẽ tấn công bất kỳ con khỉ nào đi về phía trái chuối! nếu mà con khỉ biết nói và hiểu được tiếng người, thì khi em hỏi tại sao chúng tấn công, câu trả lời của chúng chắc hẳn sẽ là: àh, thiệt ra tôi cũng không biết tại sao, nhưng đó là cách chúng tôi hành xử ở đây.

    Thử suy nghĩ một chút về câu trả lời của con khỉ. đã bao giờ chúng ta, con người, cũng có tư duy y như con khỉ hay không? cùng nghĩ thử xem. đi học. có rất nhiều điều trở thành chân lý đơn giản vì thầy cô hay những người đi trước nói như thế. chúng trở thành chân lý đơn giản vì chúng là “chân lý mà chúng tôi được dạy”. không có ai mảy may nghi ngờ, liệu những chân lý đó có đúng hay không, liệu có áp dụng chúng vào thực tế cuộc sống được hay không. đi làm. các cty thường có các quy trình. và một khi các quy trình đã trở thành “cách mà chúng tôi làm việc ở đây”, nhất là khi đã trải qua nhiều đời nhân viên, thì sẽ không còn ai nhớ rằng tại sao đó lại là cách mà cty vận hành. chẳng có ai dừng lại để nghĩ xem đó có còn là cách làm đúng hay không, hay thậm chí đó có phải là cách làm đúng ngay từ thưở ban đầu hay không. quy trình cứ được thực hiện như một quán tính, và bất kỳ người nào đề nghị thay đổi đều sẽ có thể bị tấn công bởi những người còn lại.

    Có hai loại câu hỏi: làm thế nào và tại sao. hỏi làm thế nào là hỏi hời hợt, nên câu trả lời cũng sẽ rất hời hợt. hỏi: làm thế nào để không bị tấn công? trả lời: đừng đến gần trái chuối và cứ tấn công những con khỉ đến gần trái chuối. chấm hết. hỏi tại sao bao giờ cũng sâu sắc hơn hỏi làm thế nào, nên câu trả lời cũng phải sâu sắc. hỏi: tại sao lại tấn công những con khỉ đến gần trái chuối? trả lời: àh câu chuyện nó thế này thế này. hỏi tiếp: nhưng bây giờ đâu còn ai cầm bình xịt đứng canh nữa đâu? trả lời: vậy thì cứ ăn chuối đi!!!

    Nguồn: http://vnhacker.blogspot.com/2010/08/nhung-con-khi-khong-hoi-tai-sao.html

    __________________________________
    Đôi khi nghĩ lại thấy mình “giống khỉ” thật..